Lịch sử Việt Nam

HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NƯỚC MẮM Ở PHÚ QUỐC THỜI THUỘC PHÁP

Phú Quốc một đảo lớn ở phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc tỉnh Kiên Giang. Từ cuối thế kỷ XVII, công cuộc khai phá của Mạc Cửu đã chiêu tập thêm nhiều lưu dân người Việt, Hoa, Khmer ở các vùng lân cận quần tụ, biến nơi đây thành một hòn đảo trù phú. Sau một thời gian phát triển, do nhiều nguyên nhân cộng thêm sự quấy phá của quân Xiêm…làm cho nơi đây dần hoang vắng. Năm 1862, Pháp ký hiệp ước với Xiêm, cam kết không can thiệp vào công việc của Pháp tại Nam kỳ, từ đây tình hình ở Phú Quốc mới yên.

Xem chi tiết


ĐÌNH LÀNG Ở TÂY NINH

Đình làng ở Tây Ninh lập tương đối muộn, chủ yếu vào đầu hoặc giữa thế kỷ XIX. Sớm nhất là các đình Phước Hiệp (1802), An Tịnh (1809), An Hòa (1836), Phước Lưu (1836) [tx. Trảng Bàng]. Các đình Gia Lộc, Gia Bình, Lộc Hưng, Đôn Thuận (tx. Trảng Bàng), Long Khánh, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Hội, Truông Mít (huyện Dương Minh Châu), Thái Bình, Hiệp Ninh (tp. Tây Ninh), Long Thành (tx. Hòa Thành)… lập vào thế kỷ XIX.Vào đầu thế kỷ XX là các đình Phước Chỉ (1901), Cẩm An (1905), Thạnh Đức (1915), Trí Bình (1918)… Và muộn nhất là đình Bình Thạnh (1957).


BUÔN LÀNG, LUẬT TỤC VÀ VẤN ĐỀ QUẢN LÝ CỘNG ĐỒNG CỦA CÁC TỘC NGƯỜI TÂY NGUYÊN HIỆN NAY

Trong tiến trình lịch sử dân tộc từ xưa đến nay, Việt Nam vẫn cơ bản là nước nông nghiệp, do vậy nông thôn và nông dân là một trong những địa bàn quan trọng, đóng vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế xã hội. Với vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân thì làng, xã là môi trường, là tổ chức xã hội truyền thống cơ bản. Do vậy, mỗi thời kỳ phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, đặc biệt là hiện nay, đang phát triển theo con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì làng, buôn là điểm “nối giữa”. Nét riêng của các dân tộc Tây Nguyên, dù là chưa cao về trình độ phát triển kinh tế xã hội, nhưng các quan hệ xã hội khu vực này đậm nét cộng đồng, vốn là sức mạnh tiềm ẩn của đất nước. Thế nên, phát triển kinh tế xã hội và quản lý làng buôn luôn là trọng tâm, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và đặt ra nhiệm vụ là làm sao vừa để năng động hóa vừa bảo vệ các buôn làng trước các điều kiện phái sinh tự nhiên, tạo tiền đề cần thiết để cơ cấu xã hội nơi đây từng bước hòa nhập dần với cơ chế thị trường vốn đang hình thành và phát triển.


CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI GIÁO DÂN CÔNG GIÁO DI CƯ CỦA CHÍNH QUYỀN NGÔ ĐÌNH DIỆM (1954-1963)

Trong lịch sử Việt Nam, cuộc di cư của hơn 800.000 người miền Bắc vào Nam, trong đó tuyệt đại đa số dân di cư là giáo dân Công giáo là một sự kiện có ý nghĩa và ảnh hưởng quan trọng trong lịch sử đương đại. Trong diễn biến của cuộc di cư, việc tìm hiểu chính sách của chính quyền Mỹ-Diệm đối với giáo dân là điều cần thiết để hiểu thêm về lịch sử miền Nam Việt Nam trong giai đoạn này.


NHỮNG BIỂU TƯỢNG TRONG KIẾN TRÚC CHÙA, MIẾU CỦA ĐẠO TỨ ÂN HIẾU NGHĨA Ở HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG

Nhằm làm rõ hơn tư tưởng Đạo giáo trong tôn giáo nội sinh Tứ Ân Hiếu Nghĩa (TÂHN), qua đó thấy được mối liên hệ của các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ với hệ thống tư tưởng văn hóa Trung Hoa qua các giai đoạn khai phá và cộng sinh đa tộc người ở Nam Bộ, trong nghiên cứu này, chúng tôi đi vào tìm hiểu tư tưởng Đạo giáo thể hiện qua các biểu tượng đặc trưng trong kiến trúc ngôi thờ của TÂHN, như: cổ lầu, hồ lô, kiến trúc bát quái, các ngôi tháp,... Từ các biểu tượng nổi bật này cùng với nhiều yếu tố và khía cạnh khác cho thấy tư tưởng Đạo giáo trong TÂHN rất sâu đậm.


VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN TRONG ĐỐI SÁCH CỦA CHÍNH QUYỀN CHÚA NGUYỄN VỚI XIÊM VÀ CHÂN LẠP Ở THẾ KỶ XVII-XVIII

Quốc sử quán nhà Nguyễn chép về Hà Tiên như sau: “Đông tây cách nhau 27 dặm, nam bắc cách nhau 25 dặm. Phía Đông địa giới đến huyện Hà Dương, An Giang 35 dặm, phía Tây đến biển 2 dặm, phía Nam vượt qua núi Tô Châu đến biển 5 dặm, phía Bắc đến địa giới Cao Miên 25 dặm, phía Bắc vượt qua núi Bạch Ô đến biển 20 dặm. Từ Tỉnh lỵ đi về phía Đông tới kinh 1325 dặm” . Qua đoạn miêu tả trên có thể thấy vị trí quan trọng của Hà Tiên đối với các vương quốc ở khu vực Đông Nam Á thế kỷ XVII-XVIII. Chân Lạp bị suy yếu không thể quản lí; Đàng Trong đang đẩy mạnh công cuộc mở đất về phương Nam; Ayuthaya (từ 1767 là Xiêm) sau thời gian phục hưng trở lại đang đẩy mạnh đông tiến. Hà Tiên trở thành giao điểm tương tác quyền lực của tam giác: Đàng Trong - Chân Lạp -Xiêm.


KIỂU NHÀ TRÊN BÈ VÀ CHỢ TRÊN SÔNG Ở NAM BỘ

Ngã ba Nhà Bè gọi là cửa Tam Giang, là nơi hội tụ của 3 dòng sông: Phước Long (Đồng Nai), Tân Bình (sông Sài Gòn) hợp lưu thành sông Phước Bình đổ ra biển Cần Giờ. Nơi đây là vùng nước mặn.


Bảo Quang Hóa trong lịch sử

Tây Ninh là vùng đất phía tây bắc tỉnh Gia Định, đây là khu vực được khai phá khá sớm, nơi hình thành những thủ sở đạo đầu tiên trong vùng ở thế kỷ XVIII-XIX như Quang Phong, Quang Hóa, Thuận Thành, Quang Phục. Để bảo vệ vùng biên địa ở giai đoạn đầu nhà Nguyễn, chính quyền cho xây dựng bảo Quang Hóa tại vị trí thủ sở đạo Quang Hóa. Đây là tiền đề để về sau chính quyền lập phủ Tây Ninh cùng hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa, bảo Quang Hóa nâng lên làm thành huyện Quang Hóa, là nơi đóng lỵ sở huyện Quang Hóa và sử dụng về sau.

Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương