Lịch sử Việt Nam

Vấn đề nước Bà Lỵ trong lịch sử Đông Nam Bộ

Nước Bà Lỵ hay Bà Lợi (Chữ Hán viết 婆利 âm phổ thông đọc Poli) là một tiểu quốc cổ, trước là thuộc quốc của Phù Nam, sau là chư hầu của Chân Lạp. Tên nước Bà Lỵ được sách vở Trung Quốc nhắc đến nhiều lần với những đoạn ghi chép được truyền nhau qua nhiều thời kỳ lịch sử. Các ghi chép đó cho thấy tiểu quốc Bà Lợi có đặc điểm văn hóa khác với văn hóa Phù Nam và Chân lạp nhưng lại khá tương đồng với văn hóa các tộc người bản địa ở Đông Nam Bộ xưa. Nước Bà Lỵ ở đâu, có phải là một tiểu quốc cổ xưa ở vùng Đông Nam Bộ không, vấn đề này cần được nghiên cứu thấu đáo. Cho đến nay, một số nhà nghiên cứu cho rằng tiểu quốc Bà Lỵ đó chính là nước Bà Rịa ở Đông Nam Bộ cổ xưa. Xác tín này dựa trên một ý kiến của Trịnh Hoài Đức, tác giả bộ Gia Định thành thông chí.

Xem chi tiết


Văn Thánh Miếu từ Trấn Biên đến Biên Hòa

Văn Miếu là tên gọi ngắn gọn của Văn Thánh Miếu, còn gọi là miếu Tiên Sư hay Văn Thánh, đây là nơi thờ đức Khổng Tử, người được tôn vinh là Vạn thế sư biểu - Bậc thầy của muôn đời, ở những nước có nền văn hóa Nho giáo. Thời chúa Nguyễn với hành trình mở cõi phương Nam, cũng phát huy tinh thần trọng chữ thánh hiền, các Văn Thánh lần lượt được xây dựng cho từng khu vực phủ, dinh… Cho đến thời nhà Nguyễn, việc đặt quy chế xây dựng và tế lễ ở Văn Miếu trở thành rất quy củ trong điển lệ triều Nguyễn. Trải qua một thời gian dài sử dụng và phế bỏ, đến nay không còn nhiều Văn Miếu thời nhà Nguyễn còn tồn tại, thậm chí một số Văn Miếu mất hoàn toàn dấu tích và hoặc không có thông tin. Tác giả mong muốn cung cấp về hình ảnh một tòa Văn Miếu khá quan trọng thủa xưa, Văn Miếu Biên Hòa, mà trước đó là Văn Miếu Trấn Biên, xưa thuộc tỉnh Biên Hòa và nay là tỉnh Đồng Nai


Tam đạo: Tân Châu – Hùng Ngự - Chiến Sai, quá trình dịch chuyển đồn thủ từ Doanh Châu lên Tân Châu trong lịch sử

Năm 1757, để trả ơn chúa Nguyễn đã giúp lên ngôi vua Chân Lạp, Nặc Tôn đã dâng đất Tầm Phong Long, vùng đất nằm giữa sông Tiền và sông Hậu phía thượng lưu. Kể từ đây, vùng đất này được kiểm soát hoàn toàn bởi chúa Nguyễn, cùng với sự thiết lập nền hành chính trên vùng đất mới, chúa Nguyễn cho xây dựng hệ thống đồn thủ để bảo vệ biên cương. Vùng thượng lưu sông Tiền thuộc Tân Châu kéo dài đến huyện Chợ Mới ngày nay, chúa Nguyễn cho lập Tân Châu đạo, bản doanh đặt tại Doanh Châu (cù lao Giêng ngày nay) nằm giữa sông Tiền, đặt thêm hai thủ Hùng Thắng (về sau là Hùng Ngự) bên bờ tả sông Tiền và thủ Chiến Sai bên bờ hữu sông Tiền. Đây là hệ thống đồn bảo phòng ngự bảo vệ khu vực khá lâu, đến năm 1819 vua Gia Long cho dời đạo Tân Châu lên sát biên giới là vùng đất Tân Châu ngày nay và đồng thời cũng chuyển hai thủ Chiến Sai và Hùng Ngự lên cùng. Cả ba đồn bảo mới lại được xây dựng tại khu vực biên giới là bảo Tân Châu, bảo Hùng Ngự và bảo Chiến Sai nhằm bảo vệ khu vực sông Tiền tại Tân Châu. Trải qua thời gian sử dụng, các đồn bảo này phục vụ công tác bảo vệ vùng đất biên giới và chịu nhiều lần tấn công phá hủy của quân thù. Và theo thời gian cũng như sự suy giảm chức năng khi nền đô hộ thực dân Pháp thiết lập trên vùng đất Nam Kỳ từ sớm, hệ thống đồn bảo tại khu vực Tân Châu đã trở nên mờ nhạt và đến ngày nay hầu như hoàn toàn mất dấu vết. Với mong muốn đưa lại hệ thống phòng ngự bảo vệ trực tiếp Tân Châu đạo được thành lập từ 1757 và chuyển qua hai lần đặt vị trí, dịch chuyển từ hạ lưu (Doanh Châu) lên thượng lưu (Tân Châu), tác giả mong muốn tìm lại những vị trí từng đặt đồn bảo tại hai khu vực của Tân Châu đạo trong lịch sử.


Hình ảnh cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc “trong lòng” người dân Nam Bộ

Đến đầu thế kỷ XX, tỉnh Thủ Dầu Một kinh tế-xã hội có nhiều bước phát triển nhiều công trình, đường sá, nhà của được xây dựng và lỵ Phú Cường trở thành một trung tâm thương mại lớn của tỉnh. Người dân ở khắp nơi đến làm ăn sinh sống và tổ chức nhiều hoạt động yêu nước của tầng lớp trí thức, thợ thủ công, nông dân, tiểu thương… như phong trào “ Thiên địa hội”, của Nguyễn An Ninh… đem lại những luồng sinh khí mới trong cuộc đấu tranh yêu nước ở Thủ Dầu Một. Chùa Hội Khánh, vốn là ngôi chùa cổ của tỉnh Thủ Dầu Một, là trung tâm giảng dạy giáo lý, cũng như điều hành Phật sự trong toàn tỉnh, nơi cư trú của nhiều phật tử. Tại đây năm 1923, Hòa thượng Từ Văn cùng với cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Cụ Tú Cúc Phan Đình Viện thành lập Hội Danh dự yêu nước.


Không gian biển đảo Việt Nam đầu thế kỷ XIX - qua nhật ký hải hành của một người Việt và một người Mỹ

Năm 1819, thuyền trưởng John White thực hiện chuyến hải hành dọc bờ biển từ Nam Kỳ đến Trung Kỳ cũng như xuyên Biển Đông qua các tuyến giao lộ được chốt chặn bởi Côn Đảo, Hoàng Sa và Trường Sa trước khi đến cảng Sài Gòn giao dịch thương mại. Năm 1832, sứ đoàn công cán của triều đình Huế trong đó có Phan Huy Chú, xuất phát từ cảng Đà Nẵng đi dọc miền duyên hải Trung - Nam Kỳ rồi vượt biển sang Giang Lưu Ba. Thông qua hai cuộc hành trình, không gian duyên hải và biển đảo thuộc một bộ phận lãnh thổ và phần lớn lãnh hải Việt Nam đã được tái hiện một cách kỳ vĩ và sống động theo những dòng nhật ký hải hành


Thị độc học sĩ Phan Trung và phong trào Tị Địa của sĩ phu Nam Kỳ

Đó là phong trào mang dáng dấp của một cuộc “chạy trốn”, nhưng không hẵn “chạy trốn”, mà vẫn là “chạy trốn” của sĩ phu yêu nước và nhân dân Nam Kỳ bất hợp tác với Pháp. Họ rời bỏ quê hương bản quán, đưa gia đình con cái, đem theo cả mồ mả tổ tiên, những người thân thuộc về vùng đất không có Pháp chiếm đóng để sinh sống. Theo họ, việc làm đó trước tiên để khỏi chứng kiến quân Pháp đàn áp, hà khắc dân lành; sau đó củng cố lực lượng, tập họp, bàn bạc chờ thời cơ đứng lên chống Pháp. Họ đi khỏi vùng Pháp chiếm đóng, nhưng không phải đi tìm nơi an phận trước binh đao khói lửa, mà vẫn canh cánh bên lòng vận nước, vẫn lo lắng tìm cách quy tụ lực lượng, chờ đợi thời cơ.


HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT NƯỚC MẮM Ở PHÚ QUỐC THỜI THUỘC PHÁP

Phú Quốc một đảo lớn ở phía Tây Nam của Việt Nam, thuộc tỉnh Kiên Giang. Từ cuối thế kỷ XVII, công cuộc khai phá của Mạc Cửu đã chiêu tập thêm nhiều lưu dân người Việt, Hoa, Khmer ở các vùng lân cận quần tụ, biến nơi đây thành một hòn đảo trù phú. Sau một thời gian phát triển, do nhiều nguyên nhân cộng thêm sự quấy phá của quân Xiêm…làm cho nơi đây dần hoang vắng. Năm 1862, Pháp ký hiệp ước với Xiêm, cam kết không can thiệp vào công việc của Pháp tại Nam kỳ, từ đây tình hình ở Phú Quốc mới yên.


ĐÌNH LÀNG Ở TÂY NINH

Đình làng ở Tây Ninh lập tương đối muộn, chủ yếu vào đầu hoặc giữa thế kỷ XIX. Sớm nhất là các đình Phước Hiệp (1802), An Tịnh (1809), An Hòa (1836), Phước Lưu (1836) [tx. Trảng Bàng]. Các đình Gia Lộc, Gia Bình, Lộc Hưng, Đôn Thuận (tx. Trảng Bàng), Long Khánh, Long Giang (huyện Bến Cầu), Phước Hội, Truông Mít (huyện Dương Minh Châu), Thái Bình, Hiệp Ninh (tp. Tây Ninh), Long Thành (tx. Hòa Thành)… lập vào thế kỷ XIX.Vào đầu thế kỷ XX là các đình Phước Chỉ (1901), Cẩm An (1905), Thạnh Đức (1915), Trí Bình (1918)… Và muộn nhất là đình Bình Thạnh (1957).

Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương