Kiến thức lịch sử chung

Tục Thờ Táo Quân Và Nghề Làm Ông Táo Ở Huế

Đất - Nước và Lửa là ba biểu tượng văn hóa mà bất cứ một dân tộc, quốc gia hay tôn giáo nào trên thế giới đều có những cách thể hiện riêng. Trong đó: - Đất: Tượng trưng cho chức năng người mẹ, đất cho và lấy lại sự sống. Với tính thiêng liêng ấy, với vai trò người mẹ ấy, đất can thiệp vào đời sống xã hội như là một đảm bảo cho các lời thề. Nếu lời thề là mối ràng buộc cốt tử của cộng đồng, thì đất là mẹ và vú nuôi của toàn xã hội. - Nước: Là nguồn sống, phương tiện thanh tẩy, trung tâm tái sinh. - Lửa: Là biểu tượng thần thánh, là vị thần sống và tư duy, tượng trưng cho hoạt động đem lại sự sinh sản dồi dào, tẩy uế và soi sáng( ). Xét trên phương diện văn hóa của ba biểu tượng này thì chúng tôi thấy, tượng Ông Táo trong mỗi gia đình người Việt đã là sự hội tụ của Đất - Nước và Lửa. Bởi vì qua câu chuyện dưới đây và qua quy trình làm tượng Ông Táo ở làng Địa Linh, phường Hương Vinh, thành phố Huế chúng ta sẽ thấu hiểu được điều đó.

Xem chi tiết


Bước Đầu Nghiên Cứu Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Cộng Đồng Thiên Chúa Giáo Ở An Giang Từ Thế Kỷ XVIII Đến Đầu Thế Kỷ XX

Hành trình khai phá vùng đất Nam Bộ nói chung, An Giang nói riêng có đóng góp quan trọng của tôn giáo. Tín đồ tôn giáo với sức mạnh tinh thần và nhu cầu vật chất đã di cư đến vùng đất mới khẩn hoang lập làng, tập hợp thêm nhiều tín đồ đến sinh sống. Cộng đồng cư dân - tín đồ tôn giáo càng đông thì quá trình mở mang bờ cõi và xác lập chủ quyền, bảo vệ vùng đất mới của chúa Nguyễn và triều Nguyễn ở An Giang diễn ra nhanh chóng, thuận lợi. Bên cạnh phương diện lịch sử, việc nghiên cứu về quá trình hình thành cộng đồng tôn giáo ở một vùng đất còn cho thấy bối cảnh cộng sinh đa văn hóa của các tộc người. Bài viết này bước đầu tìm hiểu về quá trình hình thành và phát triển cộng đồng Thiên Chúa giáo ở An Giang từ thế kỷ thứ XVIII đến đầu thế kỷ XX.


Nơi lưu giữ bảo vật hoàng gia Champa

Tại làng Tịnh Mỹ dọc theo quốc lộ IA - tên Cham là Plei Canar, một làng Chăm Ahier (Bà la môn), xã Phan Thanh, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận, cách quốc lộ IA vài chục mét là ngôi nhà của bà Nguyễn Thị Thềm, một di duệ của hoàng tộc Champa. Người dân nơi đây còn gọi một cách kính trọng là “Nai Thềm” - Bà công chúa Thềm. Bà sinh năm 1911, qua đời năm 1995, tên họ do nhà Nguyễn ban “quốc tính”. Theo văn hóa mẫu hệ, con gái của Bà thừa kế ngôi nhà và cổ vật hoàng gia.


Một Số Sự Kiện Của Sử Chân Lạp

Trong lịch sử, quan hệ giữa Chân Lạp với chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong diễn ra khá phức tạp. Khi thì triều đình Oudong thực hiện chính sách ngoại giao hai mặt, vừa thân Việt vừa hòa hảo với Xiêm. Trong mối tương quan đó, khảo sát sử Chân Lạp đối chiếu với sử Việt có một số sự kiện không đồng nhất. Sự kiện gả hoàng nữ và cho “mượn” Prey Nokor, Kas Probey năm 1623 Theo Niên giám Campuchia, năm 1618, Chey Chetta II lên ngôi. Là người chủ trương thực hiện đường lối “thoát Xiêm”, Quốc vương đã xóa bỏ những ràng buộc của Xiêm triều, từ chối xưng thần và dời kinh đô từ Lovea Em về Oudong. Đồng thời để quân Xiêm không dám quấy nhiễu nữa, “Quốc vương Chey Chetta II cưới một Công Chúa Việt Nam hầu dựa vào thế lực của Triều đình Huế” [2,152]. Cuộc hôn nhân chính trị này đã giúp Chân Lạp đánh bại quân Xiêm ở Bârribaur, Rantei-Meas. Tập Niên giám viết tay ở Thư viện Hoàng gia Chân Lạp triều Chey Chetta II, trang 369 chép: “Năm 2169 Phật lịch, tức là năm 1623 Dương lịch, một Sứ giả của Vua Annam dâng lên cho Vua Cao Miên Chey Chetta một phong thư, trong đó Vua Annam ngỏ ý “mượn” của Cao Miên xứ Prey Nokor và Kas Krobey để đặt làm nơi thâu quan thuế. Vua Chey Chetta sau khi tham khảo ý kiến của đình thần đã chấp thuận lời yêu cầu trên và phúc thư cho Vua Annam biết. Vua An nam bèn ra lệnh cho quan chức đặt Sở quan thuế tại Prey Nokor và Kas Krobey và từ đó bắt đầu thâu quan thuế” [2,154].


Lễ Hội Làm Chay (Thị Trấn Tầm Vu, Huyện Châu Thành) Trong Phát Triển Bền Vững Du Lịch Tỉnh Long An

1. Nguồn gốc lễ hội Làm chay Lễ hội Làm chay là tên gọi hiện nay của lệ Làm chay xưa, vốn được đọc trại âm từ lễ Trai đàn, trong đó “trai đàn” là thiết lập đàn tràng trang nghiêm, thanh tịnh với các khoa nghi ứng phú của Phật giáo cầu âm siêu dương thới. Gắn liền với lễ hội làm chay ở Tầm Vu có hai truyền thuyết được kể trong dân gian. Truyền thuyết đầu kể rằng, trước đây vào buổi trưa học trò ở gần chợ Tầm Vu thường ra chơi ở nhà lồng chợ. Một bữa trưa vào giờ chánh Ngọ, bất thình lình nhà lồng chợ sập đổ. Rất may hôm đó không hiểu sao, học trò lại không ra nhà lồng chợ chơi. Do đó, không bị xảy ra thiệt hại về người. Sau đó, dân làng tổ chức lễ trai đàn để xua đuổi ma quỷ, giải thoát Cô hồn còn lẩn quất tại đây, nguyên nhân kỳ bí tạo ra vụ sập chợ, sau trở thành lệ Làm chay hằng năm duy trì cho đến ngày nay.


Tranh dân gian đồ thế Việt Nam

Tranh dân gian đồ thế là loại tranh được sử dụng nhiều nhất trong tất cả các dòng tranh dân gian, do phục vụ nhu cầu tín ngưỡng. Khi xã hội hiện đại, tranh công nghiệp đã dần thay thế tranh mộc bản nhằm tiết kiệm nguyên liệu, hạ giá thành, nên dòng tranh này dần tàn lụi. Với tình yêu tranh dân gian, Nguyễn Thị Thu Hòa đã thực hiện nhiều chuyến điền dã trong vào ngoài nước, để dựng lại bức tranh về tranh dân gian đồ thế Việt Nam. Mở đầu sách, tác giả cho biết “tranh dân gian đồ thế là tranh dân gian được dùng trong các nghi lễ tôn giáo và tín ngưỡng với chức năng là vật phẩm hiến tế những đối tượng được thờ cúng (thần linh hoặc linh hồn của những người đã chết”.


Vận dụng nghệ thuật múa rối bóng trong dạy học lịch sử

Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, việc vận dụng linh hoạt và đổi mới phương pháp giảng dạy ở các trường phổ thông là một việc làm vô cùng cần thiết. Nó không chỉ góp phần thay đổi cách thức, phương pháp giảng dạy của giáo viên, hoạt động học tập của học sinh mà còn góp phần tạo không gian học tập mới mẻ, hứng thú và sáng tạo… Cùng mối quan tâm đó, bằng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bài viết hướng đến việc giới thiệu phương pháp dạy học dự án, trong đó tập trung vào việc vận dụng nghệ thuật múa rối bóng trong dạy học môn Lịch sử.


Nâng cao hiệu quả giáo dục truyền thống cho học sinh ở bộ môn lịch sử thông qua sử dụng di sản văn hóa địa phương

Giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ bức thiết quyết định đến sự tồn vong và phát triển của dân tộc. Trong lĩnh vực giáo dục, nhiệm vụ này muốn hoàn thành tốt cần đến sự tác động tổng thể của tất cả các môn học, trong đó môn lịch sử giữ một vai trò quan trọng. Tuy nhiên những năm gần đây, thực trạng giáo dục truyền thống dân tộc cho học sinh trong môn Lịch sử ở trường phổ thông có rất nhiều bất cập, hiệu quả thấp. Học sinh đa phần ngán và sợ đối với môn Lịch sử bởi sự hàn lâm, khô khan. Trong nội dung bài viết ngắn này, chúng tôi đưa ra một giải pháp để đưa việc giáo dục truyền thống dân tộc nói riêng và việc giảng dạy môn lịch sử nói chung mang tính trực quan sinh động, gần gũi thiết thực với các em học sinh hơn, khiến các em hứng thú hơn với các kiến thức lịch sử, bồi đắp dần cho các em sự tự hào đối với truyền thống của dân tộc. Trong phần ví dụ chúng tôi xin phép được lấy việc dạy học môn Lịch sử ở địa bàn tỉnh Bình Dương để minh họa làm rõ thêm cho luận điểm của mình.

Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương Một nét Bình Dương